Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên. Hãy nhanh tay đăng ký để tải và đưa những tài
liệu mà mình yêu thích lưu trữ trên Trang Tài Liệu
Công Tác Xã Hội do bạn quản lý.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở
ngay phía bên trái.
DC CTXH VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:44' 27-03-2014
Dung lượng: 69.0 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:44' 27-03-2014
Dung lượng: 69.0 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Người biên soạn: TS. Đỗ Hạnh Nga
Đối tượng
Người khuyết tật là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội và là đối tượng của công tác xã hội. Khi nói đến người khuyết tật, người ta thường liên tưởng đến những người tàn tật, tật nguyền, không có khả năng và sống ăn bám vào xã hội. Quan niệm này của nhiều người trong xã hội vô hình chung đã làm cho tình trạng khiếm khuyết của người khuyết tật càng trở nên nặng nề hơn. Xã hội không coi trọng người khuyết tật, người khuyết tật cũng vì thế mà tự ti và đánh giá thấp bản thân mình. Chính vì thế, hiện nay người khuyết tật vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn trong bước đường hội nhập và tự khẳng định bản thân. Trở ngại lớn nhất của họ không phải từ ảnh hưởng của khuyết tật mà chủ yếu từ phía xã hội, đó chính là sự kỳ thị hoặc thương hại, định kiến về khả năng của người khuyết tật… Mặc dù đã có rất nhiều các điều luật, chính sách bảo vệ và chế độ ưu đãi của Nhà nước, nhưng người khuyết tật vẫn luôn cần sự giúp đỡ, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và sự hỗ trợ của các nhân viên xã hội, nhằm tạo điều kiện để họ có thể phát triển bản thân và hòa nhập cộng đồng.
Trên thế giới, những thuật ngữ liên quan đến người khuyết tật được định nghĩa xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau về y học và xã hội. Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1980) đã định nghĩa về thiểu năng, khuyết tật và thiệt thòi như sau:
Thiểu năng: Bất kỳ sự mất mát hoặc dị thường nào về tâm thần, sinh lý hoặc cấu trúc hay chức năng của cơ thể.
Khuyết tật: Bất kỳ một sự hạn chế hoặc thiếu khả năng nào (là hậu quả của sự thiểu năng) để thực hiện một hoạt động nào theo cung cách hoặc trong phạm vi được coi là bình thường của một con người.
Thiệt thòi: Sự thiệt thòi của một người, do hậu quả của sự thiểu năng hoặc khuyết tật làm hạn chế hoặc ngăn cản việc thực hiện đầy đủ vai trò bình thường, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính và các yếu tố về văn hoá xã hội, đối với cá nhân đó”.
Thiệt thòi phản ánh mối quan hệ giữa người khuyết tật và môi trường của họ. Điều này xuất hiện khi họ phải chạm trán với những rào cản về văn hoá, vật chất và xã hội, ngăn cản họ tiếp cận với những hệ thống khác nhau của xã hội có sẵn cho những công dân khác. Do đó, thiệt thòi là sự mất mát hay hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng so với người khác. Người khuyết tật không phải là một nhóm người đồng nhất, ví dụ những người bị bệnh tâm thần, trì độn, khiếm thị, khiếm thính và bị câm, hoặc những người bị hạn chế về vận động, hay những người được gọi là “khuyết tật y học” phải đối mặt với các loại rào cản khác nhau mà họ phải vượt qua bằng những cách khác nhau.
Nghị quyết số 48/96 do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20/12/1993 về những chuẩn tắc bảo đảm bình đẳng về cơ hội cho người khuyết tật đã định nghĩa:
Thiểu năng là khái quát một số lớn những hạn chế về chức năng xuất hiện trong mọi tầng lớp dân cư ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Con người có thể bị thiểu năng do tổn thương về thể chất, trí tuệ hoặc giác quan, do điều kiện điều trị y tế hoặc bệnh lý tinh thần. Các thương tổn, điều kiện hoặc bệnh lý như vậy có thể xảy ra tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Khuyết tật là mất mát hoặc hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng như những thành viên khác. Thuật ngữ đó mô tả người khuyết tật tiếp xúc với môi trường. Mục đích của thuật ngữ này là nhằm nhấn mạnh phải tập trung vào những thiếu sót trong môi trường và các hoạt động có tổ chức trong xã hội, ví dụ như: thông tin, phổ biến và giáo dục, những thiếu sót này ngăn trở người khuyết tật tham gia các hoạt động xã hội một cách bình đẳng.
Ở Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật Người khuyết tật ngày 17 tháng 06 năm 2010. Ở Điều 2, Luật Người khuyết tật đã định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Trong Điều 2 của Luật Người khuyết tật cũng quy định rõ thái độ kỳ thị người khuyết tật là: “thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết tật vì
Người biên soạn: TS. Đỗ Hạnh Nga
Đối tượng
Người khuyết tật là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội và là đối tượng của công tác xã hội. Khi nói đến người khuyết tật, người ta thường liên tưởng đến những người tàn tật, tật nguyền, không có khả năng và sống ăn bám vào xã hội. Quan niệm này của nhiều người trong xã hội vô hình chung đã làm cho tình trạng khiếm khuyết của người khuyết tật càng trở nên nặng nề hơn. Xã hội không coi trọng người khuyết tật, người khuyết tật cũng vì thế mà tự ti và đánh giá thấp bản thân mình. Chính vì thế, hiện nay người khuyết tật vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn trong bước đường hội nhập và tự khẳng định bản thân. Trở ngại lớn nhất của họ không phải từ ảnh hưởng của khuyết tật mà chủ yếu từ phía xã hội, đó chính là sự kỳ thị hoặc thương hại, định kiến về khả năng của người khuyết tật… Mặc dù đã có rất nhiều các điều luật, chính sách bảo vệ và chế độ ưu đãi của Nhà nước, nhưng người khuyết tật vẫn luôn cần sự giúp đỡ, chia sẻ từ phía gia đình, cộng đồng và sự hỗ trợ của các nhân viên xã hội, nhằm tạo điều kiện để họ có thể phát triển bản thân và hòa nhập cộng đồng.
Trên thế giới, những thuật ngữ liên quan đến người khuyết tật được định nghĩa xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau về y học và xã hội. Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1980) đã định nghĩa về thiểu năng, khuyết tật và thiệt thòi như sau:
Thiểu năng: Bất kỳ sự mất mát hoặc dị thường nào về tâm thần, sinh lý hoặc cấu trúc hay chức năng của cơ thể.
Khuyết tật: Bất kỳ một sự hạn chế hoặc thiếu khả năng nào (là hậu quả của sự thiểu năng) để thực hiện một hoạt động nào theo cung cách hoặc trong phạm vi được coi là bình thường của một con người.
Thiệt thòi: Sự thiệt thòi của một người, do hậu quả của sự thiểu năng hoặc khuyết tật làm hạn chế hoặc ngăn cản việc thực hiện đầy đủ vai trò bình thường, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính và các yếu tố về văn hoá xã hội, đối với cá nhân đó”.
Thiệt thòi phản ánh mối quan hệ giữa người khuyết tật và môi trường của họ. Điều này xuất hiện khi họ phải chạm trán với những rào cản về văn hoá, vật chất và xã hội, ngăn cản họ tiếp cận với những hệ thống khác nhau của xã hội có sẵn cho những công dân khác. Do đó, thiệt thòi là sự mất mát hay hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng so với người khác. Người khuyết tật không phải là một nhóm người đồng nhất, ví dụ những người bị bệnh tâm thần, trì độn, khiếm thị, khiếm thính và bị câm, hoặc những người bị hạn chế về vận động, hay những người được gọi là “khuyết tật y học” phải đối mặt với các loại rào cản khác nhau mà họ phải vượt qua bằng những cách khác nhau.
Nghị quyết số 48/96 do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20/12/1993 về những chuẩn tắc bảo đảm bình đẳng về cơ hội cho người khuyết tật đã định nghĩa:
Thiểu năng là khái quát một số lớn những hạn chế về chức năng xuất hiện trong mọi tầng lớp dân cư ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Con người có thể bị thiểu năng do tổn thương về thể chất, trí tuệ hoặc giác quan, do điều kiện điều trị y tế hoặc bệnh lý tinh thần. Các thương tổn, điều kiện hoặc bệnh lý như vậy có thể xảy ra tạm thời hoặc vĩnh viễn.
Khuyết tật là mất mát hoặc hạn chế các cơ hội tham gia vào đời sống cộng đồng ở mức bình đẳng như những thành viên khác. Thuật ngữ đó mô tả người khuyết tật tiếp xúc với môi trường. Mục đích của thuật ngữ này là nhằm nhấn mạnh phải tập trung vào những thiếu sót trong môi trường và các hoạt động có tổ chức trong xã hội, ví dụ như: thông tin, phổ biến và giáo dục, những thiếu sót này ngăn trở người khuyết tật tham gia các hoạt động xã hội một cách bình đẳng.
Ở Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành Luật Người khuyết tật ngày 17 tháng 06 năm 2010. Ở Điều 2, Luật Người khuyết tật đã định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Trong Điều 2 của Luật Người khuyết tật cũng quy định rõ thái độ kỳ thị người khuyết tật là: “thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết tật vì
 






Các ý kiến mới nhất