Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên. Hãy nhanh tay đăng ký để tải và đưa những tài
liệu mà mình yêu thích lưu trữ trên Trang Tài Liệu
Công Tác Xã Hội do bạn quản lý.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở
ngay phía bên trái.
CTXH VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:42' 11-02-2015
Dung lượng: 738.5 KB
Số lượt tải: 41
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:42' 11-02-2015
Dung lượng: 738.5 KB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích:
0 người
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(((((
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỞI KHUYẾT TẬT
ĐỀ TÀI: “ĐƯA TRẺ KHIẾM THÍNH HÒA NHẬP”
GVHD: T.s Đỗ Hạnh Nga
SVTH: Trần Anh Tuấn
MSSV: 0956150085
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 04 năm 2012
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Trẻ em là mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục, dạy dỗ chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội. Đặc biệt là trẻ khuyết tật. Vì vậy giáo dục trẻ khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của ngành giáo dục.
Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi đã ghi cụ thể điều 34,35, 39 đã đề cập đến việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện để trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trẻ khuyết tật được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Đất nước ta đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh khốc liệt, chịu biết bao bom đạn của Đế quốc Mĩ. Mĩ đã gieo rắc trên đất nước ta rất nhiều chất độc hại. Hậu quả nặng nề nhất là bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Nhiều trẻ sinh ra đã không còn thấy ánh sáng, không được nghe tiếng gọi con một lần, có những trẻ còn bị dị tật suốt đời.
Mặt khác, hòa nhập vào xã hội được xem là một vấn đề mang tính tất yếu của mọi cá nhân trong xã hội, là cách thức để khẳng định bản thân, xác định vị trí, vai trò xã hội của bản thân.
Trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều xác định việc tạo dựng các điều kiện tốt nhất cho người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng; coi việc tạo dựng đó là cách thức để giúp cho đối tượng dễ bị tổn thương này có điều kiện để vượt qua chính những vấn đề khó khăn của bản thân, cùng hòa nhập vào xã hội.
Ở Việt Nam, theo những thống kê mới nhất trẻ khuyết tật chiếm một tỷ lệ khá cao (16%) so với tổng số người khuyết tật, và chiếm gần 01% so với tổng dân số[1]. Trẻ khuyết tật nặng cần được trợ giúp lên tới 29% trong tổng số trẻ khuyết tật. Trẻ khuyết tật thường sống với mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng, khoảng cách này ngày càng lớn dần do tác động của sự biến đổi xã hội, điều này có ảnh hưởng rất rõ rệt đến đời sống của trẻ khuyết tật. Trẻ khuyết tật có nhiều nguyên nhân: bẩm sinh hoặc phát sinh trong cuộc sống. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ khuyết tật là một vấn đề xã hội cần được quan tâm và giải quyết. Đã có nhiều quan điểm, thông điệp khác nhau đề cập đến sự hòa nhập của người khuyết tật vào cùng với các hoạt động của xã hội. Cũng chính về ý nghĩa của vấn đề này, nhiều nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành cũng hướng đến những nội dung có liên quan đến trẻ khuyết tật, đặc biệt chú trọng đến vấn đề hòa nhập của trẻ.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 tại trường Đại học Đà Nẵng – 2008, trong đó có bài báo cáo “Thực trạng công tác can thiệp sớm trẻ khiếm thính tại gia đình” có nêu lên được công tác can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính đóng vai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa không chỉ đối với trẻ khiếm thính mà còn cả với gia đình và toàn xã hội. Đề tài này nghiên cứu thực trạng công tác can thiệp sớm trẻ khiếm thính tại gia đình trên địa bàn và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính tại gia đình.
Báo cáo về Trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng,Tháng 11, 2009 về Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi và trong một nghiên cứu của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xă Hội hợp tác với UNICEF vào năm 1998-1999 trong những trẻ từ 0-17 tuổi cho thấy có khoảng 1 triệu trẻ khuyết tật trên cả nước, chiếm khoảng 1.4% tổng số dân và khoảng 3.1% tổng số trẻ em. Trung b́ình, cứ mỗi 5.7 hộ gia đinh th́ì có khoàng 1 gia đình có trẻ khuyết tật. Khuyết tật vận động là phổ biến nhất (22.4%), sau đó là khyết tật ngôn ngữ (21.4%), những vấn đề về hành vi (16.2%), khiếm thị (14
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
(((((
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỞI KHUYẾT TẬT
ĐỀ TÀI: “ĐƯA TRẺ KHIẾM THÍNH HÒA NHẬP”
GVHD: T.s Đỗ Hạnh Nga
SVTH: Trần Anh Tuấn
MSSV: 0956150085
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 04 năm 2012
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Trẻ em là mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục, dạy dỗ chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội. Đặc biệt là trẻ khuyết tật. Vì vậy giáo dục trẻ khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của ngành giáo dục.
Luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi đã ghi cụ thể điều 34,35, 39 đã đề cập đến việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện để trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trẻ khuyết tật được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Đất nước ta đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh khốc liệt, chịu biết bao bom đạn của Đế quốc Mĩ. Mĩ đã gieo rắc trên đất nước ta rất nhiều chất độc hại. Hậu quả nặng nề nhất là bị ảnh hưởng của chất độc màu da cam. Nhiều trẻ sinh ra đã không còn thấy ánh sáng, không được nghe tiếng gọi con một lần, có những trẻ còn bị dị tật suốt đời.
Mặt khác, hòa nhập vào xã hội được xem là một vấn đề mang tính tất yếu của mọi cá nhân trong xã hội, là cách thức để khẳng định bản thân, xác định vị trí, vai trò xã hội của bản thân.
Trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều xác định việc tạo dựng các điều kiện tốt nhất cho người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng; coi việc tạo dựng đó là cách thức để giúp cho đối tượng dễ bị tổn thương này có điều kiện để vượt qua chính những vấn đề khó khăn của bản thân, cùng hòa nhập vào xã hội.
Ở Việt Nam, theo những thống kê mới nhất trẻ khuyết tật chiếm một tỷ lệ khá cao (16%) so với tổng số người khuyết tật, và chiếm gần 01% so với tổng dân số[1]. Trẻ khuyết tật nặng cần được trợ giúp lên tới 29% trong tổng số trẻ khuyết tật. Trẻ khuyết tật thường sống với mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng, khoảng cách này ngày càng lớn dần do tác động của sự biến đổi xã hội, điều này có ảnh hưởng rất rõ rệt đến đời sống của trẻ khuyết tật. Trẻ khuyết tật có nhiều nguyên nhân: bẩm sinh hoặc phát sinh trong cuộc sống. Các nhà nghiên cứu cho rằng việc chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ khuyết tật là một vấn đề xã hội cần được quan tâm và giải quyết. Đã có nhiều quan điểm, thông điệp khác nhau đề cập đến sự hòa nhập của người khuyết tật vào cùng với các hoạt động của xã hội. Cũng chính về ý nghĩa của vấn đề này, nhiều nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành cũng hướng đến những nội dung có liên quan đến trẻ khuyết tật, đặc biệt chú trọng đến vấn đề hòa nhập của trẻ.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 tại trường Đại học Đà Nẵng – 2008, trong đó có bài báo cáo “Thực trạng công tác can thiệp sớm trẻ khiếm thính tại gia đình” có nêu lên được công tác can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính đóng vai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa không chỉ đối với trẻ khiếm thính mà còn cả với gia đình và toàn xã hội. Đề tài này nghiên cứu thực trạng công tác can thiệp sớm trẻ khiếm thính tại gia đình trên địa bàn và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính tại gia đình.
Báo cáo về Trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng,Tháng 11, 2009 về Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi và trong một nghiên cứu của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xă Hội hợp tác với UNICEF vào năm 1998-1999 trong những trẻ từ 0-17 tuổi cho thấy có khoảng 1 triệu trẻ khuyết tật trên cả nước, chiếm khoảng 1.4% tổng số dân và khoảng 3.1% tổng số trẻ em. Trung b́ình, cứ mỗi 5.7 hộ gia đinh th́ì có khoàng 1 gia đình có trẻ khuyết tật. Khuyết tật vận động là phổ biến nhất (22.4%), sau đó là khyết tật ngôn ngữ (21.4%), những vấn đề về hành vi (16.2%), khiếm thị (14
 






Các ý kiến mới nhất