Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên. Hãy nhanh tay đăng ký để tải và đưa những tài
liệu mà mình yêu thích lưu trữ trên Trang Tài Liệu
Công Tác Xã Hội do bạn quản lý.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở
ngay phía bên trái.
Công tác xã hội với khu lao động

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Trần Anh Tuấn (anhtuan@socialwork.vn)
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:42' 26-03-2014
Dung lượng: 34.8 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn: Trần Anh Tuấn (anhtuan@socialwork.vn)
Người gửi: Trần Anh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:42' 26-03-2014
Dung lượng: 34.8 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực tế cho thấy việc làm của phần lớn công nhân nữ nhập cư ở các thành phố lớn đều được xếp vào diện "bấp bênh". Trong đó về quy mô phải nói tới thành phố Hồ Chí Minh.
Trước hết, nói về vấn đề hợp đồng lao động và và nhận thức của người lao động về quyền lợi của mình khi tham gia lao động thì chỉ có 28% có hợp đồng không xác định thời hạn. Đáng nói là 10% công nhân nữ lại đang ký hợp đồng miệng hoặc không ký hợp đồng lao động và 24% đang ký hợp đồng thời hạn dưới 12 tháng ngay cả khi đang làm việc trong các khu công nghiệp với những công việc không mang tính thời vụ. Thậm chí, có những trường hợp (khoảng 2%) không được biết "cái hợp đồng lao động ra làm sao". Sự bấp bênh trong việc làm của họ còn thể hiện ở chỗ có tới 36% công nhân nữ đã từng chuyển nơi làm việc từ 1 đến 5 lần trong 5 năm qua, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi.
Thứ hai, về thời gian tham gia lao động và tiền lương thì theo thống kê, số công nhân làm việc đúng 8 giờ/ngày chỉ đạt 78%, có 15% làm việc 9 đến 11 giờ /ngày,7% làm việc 12giờ /ngày, thậm chí vẫn có những công nhân làm việc trên 12 giờ/ngày. Cường độ làm việc "chóng mặt" như thế nhưng thu nhập lại không tương xứng. Mặc dù các doanh nghiệp đều điều chỉnh theo hướng tăng tiền lương tối thiểu năm 2009, song hầu hết công nhân nữ nhập cư cho rằng, tiền lương, tiền công được trả chưa đúng với thời gian và công sức lao động mà họ bỏ ra. Song với tâm lý của những người cần việc làm, họ không dám đòi hỏi và tất nhiên họ không được thương lượng, thỏa thuận về tiền lương, tiền công và cả thời gian làm thêm giờ. Tiền lương trung bình của công nhân nữ nhập cư đều được doanh nghiệp trả cao hơn mức lương tối thiểu, song chỉ cao hơn khoảng từ 50.000 - 200.000 đồng. Nhóm có tiền lương thấp nhất thuộc những người không có tay nghề, mà nhóm này chiếm tới 78%. Để đối phó với việc thực hiện lộ trình tăng lương tối thiểu, nhiều doanh nghiệp đã mạnh tay cắt xén những khoản chi cho công nhân như tiền thưởng, tiền "chuyên cần", trợ cấp đi lại, hỗ trợ tiền nhà ở, học tập đào tạo nghề...
Thứ ba, đời sống của nữ công nhân cũng không khả quan hơn. Phần lớn chị em tự mua thực phẩm về nấu thay vì ăn ở các quán bình dân với mức chi bình quân chỉ là 7.000 - 10.000 đồng/ bữa. 42% nữ công nhân thỉnh thoảng và 8% phải thường xuyên phải cầm đồ, vay lãi hoặc mua chịu để lấy tiền sinh sống. Thời gian gần đây tình trạng người lao động chậm đóng tiền nhà, tiền điện, mua chịu hàng hóa... tăng nhiều so với trước. Tại các khu công nghiệp và khu chế xuất của Hà Nội, công nhân nữ phải thuê nhà trọ, phần lớn không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như: diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng, nước sạch. Phòng từ 12 - 15m2 cho 3 - 6 người, bao gồm cả nơi tắm rửa, vệ sinh, nấu nướng, ăn ở.
Hơn thế nữa, về đời sống tinh thần, do suốt ngày "ngập đầu" trong công việc, điều kiện vui chơi giải trí với những nữ công nhân này cũng chỉ là "mơ ước". Hơn nữa, do tính chất công việc, nữ công nhân ít có điều kiện hòa nhập nhịp sống của thành phố. Một nữ công nhân may tâm sự: "Mình hiếm có thời gian cho những cuộc chơi với bạn bè, nếu nói là "tối mắt, tối mũi" vào đường kim, mũi chỉ cũng chẳng sai. Làm việc từ sáng đến tối, nghỉ trưa được 30 phút, nhất là những ngày có lô đặt hàng lớn thì phải thức cả đêm. Dẫu rằng, làm nhiều thì kiếm được nhiều… nhưng đấy không phải là cái quan trọng nhất với bọn mình".
II. PHÂN TÍCH ÁP DỤNG LÝ THUYẾT TRONG QUA TRÌNH CAN THIỆP
Các vấn đề của thân chủ tập trung ở nhận thức và hành vi thân chủ. NVXH dùng dựa vào lý thuyết nhận thức – hành vi để đánh giá, chẩn đoán mối tương quan giữa thân chủ với những người xung quanh. Các hoạt động được tổ chức trong sinh hoạt nhằm mục đích: cung cấp kiến thức giúp thân chủ tự điều chỉnh, tạo môi trường trao đổi thân thiện thúc đẩy sự tương tác tích cực giữa thân chủ với môi trường xung quanh.
Vào giai đoạn khi mối tương quan giữa NVXH và thân chủ đã gần gũi hơn, NVXH sử dụng thuyết tâm lý của Adler và tham vấn với mục đích hỗ trợ các thân chủ nhìn nhận đúng về bản thân mình:
Thực tế cho thấy việc làm của phần lớn công nhân nữ nhập cư ở các thành phố lớn đều được xếp vào diện "bấp bênh". Trong đó về quy mô phải nói tới thành phố Hồ Chí Minh.
Trước hết, nói về vấn đề hợp đồng lao động và và nhận thức của người lao động về quyền lợi của mình khi tham gia lao động thì chỉ có 28% có hợp đồng không xác định thời hạn. Đáng nói là 10% công nhân nữ lại đang ký hợp đồng miệng hoặc không ký hợp đồng lao động và 24% đang ký hợp đồng thời hạn dưới 12 tháng ngay cả khi đang làm việc trong các khu công nghiệp với những công việc không mang tính thời vụ. Thậm chí, có những trường hợp (khoảng 2%) không được biết "cái hợp đồng lao động ra làm sao". Sự bấp bênh trong việc làm của họ còn thể hiện ở chỗ có tới 36% công nhân nữ đã từng chuyển nơi làm việc từ 1 đến 5 lần trong 5 năm qua, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi.
Thứ hai, về thời gian tham gia lao động và tiền lương thì theo thống kê, số công nhân làm việc đúng 8 giờ/ngày chỉ đạt 78%, có 15% làm việc 9 đến 11 giờ /ngày,7% làm việc 12giờ /ngày, thậm chí vẫn có những công nhân làm việc trên 12 giờ/ngày. Cường độ làm việc "chóng mặt" như thế nhưng thu nhập lại không tương xứng. Mặc dù các doanh nghiệp đều điều chỉnh theo hướng tăng tiền lương tối thiểu năm 2009, song hầu hết công nhân nữ nhập cư cho rằng, tiền lương, tiền công được trả chưa đúng với thời gian và công sức lao động mà họ bỏ ra. Song với tâm lý của những người cần việc làm, họ không dám đòi hỏi và tất nhiên họ không được thương lượng, thỏa thuận về tiền lương, tiền công và cả thời gian làm thêm giờ. Tiền lương trung bình của công nhân nữ nhập cư đều được doanh nghiệp trả cao hơn mức lương tối thiểu, song chỉ cao hơn khoảng từ 50.000 - 200.000 đồng. Nhóm có tiền lương thấp nhất thuộc những người không có tay nghề, mà nhóm này chiếm tới 78%. Để đối phó với việc thực hiện lộ trình tăng lương tối thiểu, nhiều doanh nghiệp đã mạnh tay cắt xén những khoản chi cho công nhân như tiền thưởng, tiền "chuyên cần", trợ cấp đi lại, hỗ trợ tiền nhà ở, học tập đào tạo nghề...
Thứ ba, đời sống của nữ công nhân cũng không khả quan hơn. Phần lớn chị em tự mua thực phẩm về nấu thay vì ăn ở các quán bình dân với mức chi bình quân chỉ là 7.000 - 10.000 đồng/ bữa. 42% nữ công nhân thỉnh thoảng và 8% phải thường xuyên phải cầm đồ, vay lãi hoặc mua chịu để lấy tiền sinh sống. Thời gian gần đây tình trạng người lao động chậm đóng tiền nhà, tiền điện, mua chịu hàng hóa... tăng nhiều so với trước. Tại các khu công nghiệp và khu chế xuất của Hà Nội, công nhân nữ phải thuê nhà trọ, phần lớn không đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu như: diện tích chật hẹp, thiếu ánh sáng, nước sạch. Phòng từ 12 - 15m2 cho 3 - 6 người, bao gồm cả nơi tắm rửa, vệ sinh, nấu nướng, ăn ở.
Hơn thế nữa, về đời sống tinh thần, do suốt ngày "ngập đầu" trong công việc, điều kiện vui chơi giải trí với những nữ công nhân này cũng chỉ là "mơ ước". Hơn nữa, do tính chất công việc, nữ công nhân ít có điều kiện hòa nhập nhịp sống của thành phố. Một nữ công nhân may tâm sự: "Mình hiếm có thời gian cho những cuộc chơi với bạn bè, nếu nói là "tối mắt, tối mũi" vào đường kim, mũi chỉ cũng chẳng sai. Làm việc từ sáng đến tối, nghỉ trưa được 30 phút, nhất là những ngày có lô đặt hàng lớn thì phải thức cả đêm. Dẫu rằng, làm nhiều thì kiếm được nhiều… nhưng đấy không phải là cái quan trọng nhất với bọn mình".
II. PHÂN TÍCH ÁP DỤNG LÝ THUYẾT TRONG QUA TRÌNH CAN THIỆP
Các vấn đề của thân chủ tập trung ở nhận thức và hành vi thân chủ. NVXH dùng dựa vào lý thuyết nhận thức – hành vi để đánh giá, chẩn đoán mối tương quan giữa thân chủ với những người xung quanh. Các hoạt động được tổ chức trong sinh hoạt nhằm mục đích: cung cấp kiến thức giúp thân chủ tự điều chỉnh, tạo môi trường trao đổi thân thiện thúc đẩy sự tương tác tích cực giữa thân chủ với môi trường xung quanh.
Vào giai đoạn khi mối tương quan giữa NVXH và thân chủ đã gần gũi hơn, NVXH sử dụng thuyết tâm lý của Adler và tham vấn với mục đích hỗ trợ các thân chủ nhìn nhận đúng về bản thân mình:
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất